TRỘM CỦA CHÍNH MÌNH

Chính những niệm tưởng lăng xăng đó đã che lấp đi của báu chính mình,

TRỘM CỦA CHÍNH MÌNH

 

Bây giờ qua phần thứ hai là lấy trộm của chính mình. Muốn hiểu mình đã lấy trộm của báu của chính mình như thế nào thì trước tiên phải xác định được cái gì là của báu của chính mình. Nếu không biết của báu của mình là gì thì làm sao nói là lấy trộm được. Cho nên bây giờ phải xác định

"Cái gì là của báu chính mình?"

và "Mình đã lấy trộm nó như thế nào?".

Nếu thực sự là của báu chính mình, nó phải đảm bảo những đặc tính sau:

- Nó phải ngay nơi chính mình chứ không phải mang từ bên ngoài vào.

- Nó phải chân thật không hư dối, tức là không phải là đồ giả. Vì nếu là đồ giả thì không thể gọi là quý báu được.

- Nó phải không hư hoại, tức là không sanh, không diệt. Nếu nói là của quý báu mà hư hoại thì không còn nghĩa là quý báu nữa rồi.

Bây giờ coi lại, cái gì là của báu ngay nơi mỗi người?

Nơi thân thể con người chúng ta có hai phần: phần thứ nhất là sắc chất có nghĩa là thân này, và phần thứ hai là tinh thần là những cái nghĩ suy ở trong nội tâm mình.

Trước tiên mình xét thân sắc chất này có phải là mình không?

Nếu thân này là mình thật thì giả sử có một lúc nào đó, một phần cơ thể bị tách ra khỏi thân thì cái đó là của ai?

Nếu thân là mình thì khi tách ra phần đó cũng phải là mình, phải không? Nhưng nếu cái được tách ra là mình thì cái đang nhìn đó là ai?

Như vậy cái đối diện đó là mình và đây cũng là mình thì có hai cái mình, nếu có hai cái mình thì đó chưa phải là mình thật.

Kế nữa, thân này nó chỉ tồn tại được trong vòng một thời gian rồi nó sẽ chết và hư hoại đi. Vì nó là cái bại hoại vô thường nên không phải thật là mình được. Như vậy phần sắc chất không phải là mình.

Bây giờ tới phần thứ hai là phần tinh thần, có nghĩa là tâm sanh diệt, tâm suy nghĩ khởi niệm ở trong mình. Cái tâm này có rất nhiều thứ như buồn, vui, mừng, giận,thương, ghét

Vậy những thứ đó, cái nào là mình đây?

Nếu giả sử quý vị thích vui thì bây giờ vui là mình, còn khi buồn là ai?

Nếu thật cái vui là mình thì mình sẽ vui hoài và không bao giờ buồn, phải không?

Nhưng con người mình có lúc buồn, lúc vui. Nếu vui và buồn cùng là mình thì mừng, giận, thương, ghét cũng là mình, vậy thì một ngày có rất nhiều cái mình, cái mình đó là cái lộn xộn chứ không phải là cái mình chân thật.

Như vậy, thân sắc chất này và tâm suy nghĩ sanh diệt, hai cái đó không phải là mình rồi thì cái gì là mình?

Thông thường người thế gian thường hay cho cái niệm tưởng suy nghĩ là mình nên khi khởi một niệm gì thì nói tôi nghĩ thế này, tôi nghĩ thế khác, chấp nhận cái đó là mình. Nhưng hôm nay qua phân tích, quý vị biết cái đó không còn là mình nữa, thân này cũng không phải thật là mình nữa thì bây giờ:

Cái gì là mình đây?

Nếu quý vị đã nghe Hòa thượng giảng thì chắc còn nhớ, Hòa thượng nói, giả sử một lúc nào đó bao nhiêu duyên bên ngoài không màng tới, và trong lòng cũng không có gì bận bịu phải lo nghĩ, mình ngồi thảnh thơi buông hết toàn bộ.

Lúc đó trong lòng không có một gợn niệm nào khác, nhưng khi người đi qua quý vị có biết không?

Vẫn biết vẫn thấy. Đâu phải đợi khởi nghĩ mới biết, mới thấy.

Gió thổi qua mình thấy mát, người vật đi qua, mình đều thấy biết hết, nhưng trong không gợn một niệm thì cái biết đóchính là chân thật nơi mỗi con người chúng ta.

Tại sao quý Thầy dám quả quyết đó là thật?

Quý vị biết tại sao thật chưa?

Lâu nay mình chỉ nghe một chiều, nghe giảng thì tin là thật, nhưng bây giờ đặt lại câu hỏi: "Tại sao dám quả quyết nó là thật nơi mình?"

Phải đặt lại câu hỏi đó thì mới có sự đánh động tới tận tâm can và niềm tin mới vững chắc không bao giờ đổi.

Khi quý vị có niệm nghĩ suy thì đó là tướng gì? Là tướng động.

Khi không cóniệm nghĩ suy thì đó là tướng gì? Là tướng tịnh.

Khi khởi là động, khi không khởi là tịnh, đó là hai tướng của tiền trần, có động và có tịnh.

Nhưng cái mà khi khởi niệm cũng biết, khi niệm đã bặt rồi, không còn niệm tưởng nó vẫn hằng sáng biết thì cái biết đó có bị lệ thuộc trên tướng động và tướng tịnh không?

Cái biết đó luôn hiện hữu trên hai tướng động và tịnh, nó không phải là tướng của sanh diệt. Mà không phải là cái sanh diệt thì chính nó là cái chân thật ở nơi mình.

Trong Kinh Lăng Nghiêm Phật dạy Ngài A-nan: "Nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt tức là tâm ông. Nếu tánh phân biệt đó rời tiền trần mà không có thật thể thì đó là bóng dáng phân biệt của tiền trần”.

Ví dụ chúng ta cùng nhìn bình hoa này, ai nhìn cũng biết. Nhưng làm sao nhận ra cái biết như thế nào là biết chân thật và biết như thế nào không phải là chân thật mình?

Khi quý vị nhìn bình hoa này thì quý vị biết bình hoa, khi quý Thầy cất bình hoa đi, nếu quý vị nói rằng không còn biết gì nữa thì cái biết đó là cái biết gì?

Đó là cái biết của tiền trần, là bóng dáng phân biệt tiền trần. Tại sao?

Tại vì đợi có bình hoa (tiền trần) nó mới có biết, cất bình hoa đi thì nó không còn thấy biết nữa, biết theo bình hoa bên ngoài, theo bình hoa bên ngoài mà sanh diệt cho nên nó là bóng dáng phân biệt tiền trần.

Nhưng bây giờ chúng ta tỉnh sáng lại, không bám theo bình hoa, thì khi có bình hoa này mình cũng biết và khi không có bình hoa này mình vẫn hằng thấy biết thì cái đó là "rời tiền trần mà vẫn có tánh phân biệt”, vẫn có cái thấy biết hằng hữu, cho nên cái đó "chính là tâm ông”.

Trên tướng động nó cũng có, trên tướng diệt nó cũng có, cho nên nó không sanh không diệt, là hằng hữu, là chân thật, là không hư dối. Cái không sanh diệt trên tướng động và tịnh đó là của báu chân thật nơi chính mình.

Của báu đó ở đâu?

Trong hai câu cuối của bài kệ kết thúc bài "Phú Cư Trần Lạc Đạo", vua Trần Nhân Tông đã nói:

"Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.

Khi đối cảnh mà không có một niệm khởi phân biệt thứ hai thì ngay đó là vô tâm. Vô tâm nhưng mình vẫn thấy biết thì cái thấy biết vô tâm đó mới có thể thấy biết được trên vật và không vật, trên cả tướng động và tịnh.

Còn nếu cái thấy biết có tâm, tức là có khởi phân biệt, có bóng dáng phân biệt của tiền trần thì nó không phải là tâm của chính mình.

Ngài nói: "Trong nhà có báu thôi tìm kiếm”, của báu đó là đối cảnh vô tâm, nhưng mà ở đâu?

Ở trong nhà, là ngay nơi mỗi chúng ta, của báu đó là nơi mỗi quý vị chứ không phải ai đem cho cả.

Tới đây quý vị đã tin ngay nơi mình, mỗi người ai cũng sẵn có của báu chưa?

 Đã sẵn có, nhưng chưa dùng được trọn vẹn, đúng không?

Và có người cả đời không biết và dường như cũng không có ai nói cho biết.

Tại sao lâu nay chúng ta lại bị khuất lấp, mê mờ đến vậy?

Bây giờ quý Thầy ví dụ như thế này, quý vị nào khéo thì sẽ thấy. Khi quý vị bận rất nhiều việc và trong lòng lăng xăng nhiều thứ thì để cái gì ở đâu là quên ở đó, phải vậy không?

Hễ mình để chùm chìa khóa ở đây là quên, tìm hoài cũng không ra, càng tìm càng rối. Tại vì bao nhiêu thứ nghĩ đã ngổn ngang một đống trong đầu, bây giờ thêm một cái niệm tìm là thêm một đống thứ hai nữa thì làm sao tìm ra được?

Mình cũng chưa biết chắc bằng cách nào để tìm ra nữa. Nhưng đến tối, quyết định buông hết để ngủ cho khỏe, khi vừa nằm xuống thì liền nhớ ra chùm chìa khóa đã bỏ quên ở đâu. Như vậy có phải nhữngcái nghĩ suy ồn ào hằng ngày đó đã che lấp đitánh giác sáng của mình không?

Chính những niệm tưởng lăng xăng đó đã che lấp đi của báu chính mình, tuy rằng của báu không mất, nhưng bị che lấp đi mà mình không biết thì coi như đã mất, mà mất là do ai ăn trộm?

Niệm tưởng che lấp giấu đi thì chính niệm tưởng là kẻ ăntrộm rồi. Nhưng niệm tưởng đó ở đâu?

Trong mình chứ đâu phải ai đem tới. Như vậy, chính mình lại đi ăn trộm của mình, mới nghe qua tưởng là vô lý, nhưng bây giờ thì thấy có lý.

Tại sao gọi là ăn trộm?

Những niệm tưởng lăng xăng đó là vọng tưởng khởi nghĩ, sanh diệt âm thầm bên trong, đâu có ai thấy được. Đồng thời nó lại có khả năng che lấp đi kho báu của chính mình mà mình không nhận ra.

Những vọng tưởng đó, dù người đã phát hiện hay chưa phát hiện ra, nó cũng âm thầm lén lút lao ra.

Chính vì nó có tính chất âm thầm và lén lút giấu đi của báu chân thật chính mình cho nên nó là tâm trộm của mình,cướp đi của báu chính mình mà mình không hề hay biết.

Vui sống