Như thế là đi hoang rồi.

Chúng ta thường xuyên đi dự lễ ngày Chúa Nhật đọc kinh và lãnh nhận các bí tích, nhưng đạo không thấm vào lòng chúng ta.

Như thế là đi hoang rồi.



           Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất trong lịch sử hội họa, đó là câu chuyện danh họa Leonard da Vinci đi tìm người mẫu để họa lại khuôn mặt của Giuđa, kẻ phản bội Chúa. Khi vẽ bức tranh "Bữa Tiệc Ly" trong nhà cơm của tu viện "Ðức Mẹ Ban Ơn" tại thành phố Malina, phía Bắc nước Italia, ông vẽ rất chậm vì không tìm ra các người mẫu thích hợp.

            Một hôm, ông gặp trong công viên Casellor một thanh niên tên là Fx.Baldisteny có gương mặt bầu dục tuyệt đẹp, với vầng trán an hòa và quí phái, đôi mắt sâu và trong suốt, tóc vàng hoe có gợn sóng. Leonardo da Vinci liền mời chàng trai tuấn tú ấy đến ngồi làm mẫu để vẽ Chúa Giêsu.

            Vài năm sau, bức họa vẫn chưa xong, Leonard da Vinci ngày đêm gãi đầu bứt tai, vì không sao tìm ra được một người có gương mặt dữ dằn làm mẫu để vẽ hình Giuđa, kẻ phản bội đã nộp Chúa. Tình cờ vào một buổi chiều nọ, khi bước vào một quán ăn, Leonard da Vinci trông thấy một người đàn ông có gương mặt xấu xí dữ dằn đang nhìn các người khách đánh cá ngựa, hắn chửi thề luôn miệng. Leonard da Vinci vui mừng vì đã tìm thấy một người đàn ông đang cần. Ông gọi hắn ra một góc và đề nghị nếu hắn nhận làm mẫu cho ông vẽ thì sẽ được thưởng nhiều tiền. Gã đàn ông nhận lời và đã cùng với họa sĩ Leonard da Vinci vào trong tu viện "Ðức Bà Ban Ơn".

Trong lúc Leonard da Vinci chăm chú nhìn gương mặt gã với vầng trán buồn, đôi mắt dữ tợn, tóc tai dựng đứng và chợt nhớ đến một kỷ niệm, thì ông nghe một tiếng nấc nghẹn ngào.

Ông hỏi hắn:

- Có chuyện gì vậy? Bác cảm thấy người không khỏe hay sao?

Gã đàn ông trả lời:

- Không! Tôi khóc vì căm hận cuộc đời tàn tạ hư đốn của tôi.

Leonard da Vinci lại hỏi:

- Thế nghĩa là sao?

Gã đàn ông trả lời:

         - Thưa thầy, chắc thầy còn nhớ cách đây ba năm tôi cũng ngồi ghế này làm mẫu cho thầy vẽ hình Chúa Giêsu... Gã đàn ông nhìn bức tranh gần hoàn thành trên tường, thở dài và nói tiếp: "Tôi thật là một tên khốn nạn. Ðam mê và tội lỗi đã biến tôi ra thân tàn ma dại như thế này".

           Kính thưa quý vị và anh chị em,

          Chúng ta không biết câu chuyện Người Con Hoang Ðàng kết thúc ra sao?

Không hiểu khi tha thứ, phục hồi phẩm giá cho người con thứ đã hư mất, người cha già có thành công trong việc thuyết phục người con cả vui vẻ vào nhà dự tiệc mừng em sống lại hay không?  

Nhưng chúng ta biết một điều chắc chắn này là đa số trong chúng ta đều có cùng một tâm thức và cung cách hành xử như người con cả.

Chúng ta không bỏ Chúa đi hoang, nhưng lối hành xử của chúng ta không phản ảnh tinh thần Tin Mừng của Chúa,

nghĩa là chúng ta cũng rất xa Chúa

như thế có khác nào chúng ta cũng đi hoang.

          Cũng giống như người con cả trong dụ ngôn, cho đến nay chúng ta chưa quyết định bỏ Chúa, nhưng chúng ta cũng

chưa bao giờ nhất quyết bước vô nhà,

chưa bao giờ nhất quyết sống với Chúa thựcsự:

"Con ơi, mọi sự của cha là của con".

Chính lời nói đó của người cha già khiến anh con cả sợ hãi.

Anh sợ hãi phải có một con tim, như con tim nhân hiền quảng đại vô bờ bến của người cha.

Anh sợ hãi phải có một cái nhìn yêu thương đại đồngtâm tìnhbao dung của cha.

Anh sợ hãi phải sống mà không hề nuôi các tâm tình thù ghét, báo oán, gian ác trong lòng.

         Cũng giống như người con cả của dụ ngôn,

chúng ta sợ hãi phải trở nên giống Chúa hoàn toàn, phải chia sẻ mọi sự với Chúa và nên thánh như Cha.

Do đó, chúng ta giữ đạo nhưng không sống đạo. Như anh thanh niên Baldisteny, là người đã được làm người mẫu Chúa Giêsu,

có thể chúng ta thường xuyên đi dự lễ ngày Chúa Nhật hay cả ngày thường nữa, đọc kinh và lãnh nhận các bí tích, nhưng đạo không thấm vào lòng chúng ta.

Ra khỏi nhà thờ, chúng ta ăn nói chua ngoa và hành xử gian dối, không hề biết TinMừng của Chúa,

đạo đó quả thật là đạo nhà thờ.

Sống như thế là chúng ta khước từ chấp nhận mầu nhiệm nhập thể và nhập thế của Chúa, như thế là đi hoang rồi.

Vui sống