Thứ tư, 27 Tháng 7 2011 08:32
Làm thế nào để nắm bắt thực tại.
Nhìn tất cả những gì xuất hiện trước mắt bạn, không đặt tên lên đấy. Vượt qua các khái niệm và nhìn thực tại ẩn nấp sau mỗi sự vật, không bẻ vụn, nhìn tổng thể, và cố gắng khám phá thể thống nhất. Bạn không thể giải thích thực tại bằng từ ngữ. Không có nhãn hiệu nào dành cho thực tại. Vì thế, người đắc đạo không muốn nói.
Làm sao giải thích được thế giới thực tế nơi ông ta sống và sự khôn ngoan đã giúp ông khám phá?
Ta không thể kể lại điều vượt ngôn ngữ mà lại không nói ra những điều phi lý. Người đắc đạo chỉ có thể nói bằng dụ ngôn để cho bạn có thể rút ra cái tinh túy.
Đấy chính là điều mà các thi sĩ đã làm. Léon Felipe nói:
“Khoảng cách giữa con người và thực tại là cả một truyện cổ tích”.
Qua các truyện cổ tích, thi sĩ giúp bạn nắm bắt một thực tại không dán nhãn. Chúng có vẻ vô nghĩa, nhưng chúng vượt khỏi mọi khái niệm như trong Phúc Âm.
Những điều Phúc Âm liệt kể là một mầu nhiệm, nhưng Giáo Hội lại muốn nhốt kín mầu nhiệm trong một nhà tù khái niệm và luật lệ. Nếu bạn không đủ khả năng biểu đạt bản chất của cái cây bằng từ ngữ cây, thì làm sao bạn có thể diễn đạt Thiên Chúa?
“Biết thì không nói. Nói thì không biết.”
Bên phương đông người ta bảo thế. Lời nói là một phương tiện chia sẻ, trao đổi, nhưng đôi khi cũng là một trở ngại và thậm chí một mối nguy hiểm khi việc giao tiếp bị các khuôn phép làm cho lệch lạc. Một ngôn ngữ chung là một loại lập trình cho những người nói ngôn ngữ ấy.
Trên thực tế, không ai có thể xúc phạm bạn.
Chính cách bạn giải thích ngôn ngữ khiến bạn bị xúc phạm. Điều này xảy ra khi bạn thiết lập một tương quan giữa điều đã nói ra với một hình ảnh nhất định hay một khái niệm. Chính cái nhãn được dán vào lời nói làm cho bạn bị xúc phạm, nhưng một cái nhãn thì có giá trị gì nào?
Cần phải tìm ra điều ẩn nấp dưới cái nhãn ấy, biết rằng điều bạn tìm thì vượt quá các khái niệm, các nhãn dán.
Chỉ có một phần thực tại được bộc lộ qua ngôn ngữ ta dùng thường ngày, và ta phản ứng trước cái phần nhỏ bé ấy, mà không tìm kiếm những yếu tố vắng mặt. Ngay cả những nhà khoa học cũng thừa nhận rằng họ chỉ biết một phần thực tại mà thôi. Khái niệm và lời nói làm cho ta linh cảm một điều gì, nhưng sự chuyển động, cái bao la, cái không thể diễn đạt, nhốt kín, xác định, thì ta chỉ có thể phản lại chúng nếu ta muốn diễn dịch bằng lời nói. Khi ta mô tả cho một người mù màu vàng, chẳng hạn, ông ta không có ý niệm nào về màu ấy. Muốn hiểu thực tại, người đắc đạo xử sự giống như chim, không bám víu vào bất cứ thứ gì. Thực tại không để cho ta nhốt nó vào trong những công thức.
Mọi tôn giáo đều nghĩ - hay tuyên bố - rằng mình nắm giữ chân lý, sở hữu toàn bộ chân lý. Bởi lẽ chỉ có một Chân Lý duy nhất, nên Chân Lý không thuộc độc quyền một ai. Chân Lý là của mọi người, nhưng ít khi thuộc về những ai muốn nắm giữ chân lý, vì điều gì ta có thể bắt giữ được thì không còn là chân lý. “Khi nhà thông thái chỉ mặt trăng, người ngu nhìn vào ngón tay”. Đấy là điều đã xảy ra trong các tôn giáo khi các tôn giáo ấy muốn chiếm hữu chân lý. Sự việc cũng xảy ra như vậy đối với những người cực đoan trong chính trị hay trong bất cứ lãnh vực nào mà người ta cố gắng chiếm hữu chân lý.
Kẻ khủng bố là một con người bị lập trình để mà chết: vì đất nước, vì nền chính trị, vì tôn giáo của mình hoặc vì một lý do nào khác mà cái chân lý của anh khiến anh xác tín. Và anh ta hành động như thế vì tưởng rằng mình giải phóng thế giới và tìm ra hạnh phúc mình qua việc đó. Thực ra, những kẻ khủng bố đã bị nhồi sọ - họ không biết đến sự khôn ngoan - và nói chung, các vị tử đạo trong mọi tôn giáo cũng hành động giống như thế. Ai chết để bảo vệ ý niệm của mình về chân lý là một người cuồng tín. Có thể có những ngoại lệ, nhưng đa số là sản phẩm của chương trình lập sẵn của văn hóa hay tôn giáo. Điều tệ hại nhất, ấy là họ không mảy may ý thức về điều ác mà họ có thể gây ra khi họ cuồng tín.
Những kẻ bị nhồi sọ thực thi những hành vi độc ác như giết người trên giàn hỏa hay, nhân danh một tôn giáo cuồng tín, đốt cháy những người bị gọi là lạc giáo hay phù thủy. Tôn giáo đúng đắn phải giải phóng chúng ta, giải tỏa nỗi sợ chứ không phải nô lệ hóa chúng ta. Chẳng phải là ta từng dạy rằng Phép Thánh Thể là bàn tiệc tình yêu sao?
Mọi chương trình lập sẵn đều khiến bạn đáp trả như một người máy bằng những thói quen thường tách rời bạn ra khỏi thực tế.
Các thói quen chỉ nên dùng cho những việc hằng ngày (ví dụ như lái xe, cử động đôi chân để bước đi, v.v...).
Nhưng đối với những việc căn bản trong cuộc sống, các thói quen ấy gây mê cho sức sáng tạo và sự sáng suốt của tâm trí. Điều nghiêm trọng ấy là ta xem những việc được thực hiện một cách máy móc là một chuyện bình thường. Ngay cả linh đạo cũng là đối tượng cho việc lập trình khiến ý nghĩa nó bị bóp méo. Cùng cách thức ấy, thực tại bị bẻ cong khi ta nhốt nó vào trong những khái niệm lệch lạc. Cần phải thức tỉnh để khỏi bị đánh lừa.
Người ta nói đến linh đạo thánh I-nhã, linh đạo dòng Carmel...
Thế nhưng, linh đạo thì không có nhãn.
Nếu bạn dùng một hình thức linh đạo nào, có nghĩa là bạn tìm cách làm bản sao của một ai đó.
Linh đạo thì chỉ có một và mỗi người phải sống linh đạo theo kiểu riêng của mình bằng cách chỉ dùng tinh thần mà khám phá và trung thành với linh đạo đó.
Khi ta bám víu vào lời nói hay hình ảnh của người khác, ta đánh mất chân tính đang cư ngụ trong con người sâu thẳm của mình.
Mặt khác, linh đạo là để sống, chứ không phải để học tập, thì mới có thể chạm đến trái tim con người.
Điều tôi giải thích đây không thuộc về phương đông hoặc phương tây, vì linh đạo không thuộc về ai cả, khi linh đạo đó là một linh đạo chân chính.
Mỗi người có cách riêng để giải thích linh đạo hoặc xếp linh đạo vào hồ sơ, khi không dám diễn đạt sứ điệp thiêng liêng chân chính của mình. Có thể người ấy không tin vào sứ điệp đó.
Tôi có biết một linh mục mong muốn mắc bệnh ung thư để chết trong đau đớn... và đa số những người khác sẽ rất phiền lòng nếu họ mắc bệnh ấy. Hai thái độ đó đều là sản phẩm của những chương trình lập sẵn trên bình diện tôn giáo hay linh đạo.
Chính bạn phải chọn lựa cách giải thích cuộc sống, từ kinh nghiệm bản thân, mà không để mình bị ảnh hưởng bởi những ý kiến bên ngoài.
Dĩ nhiên, vấn đề không phải là loại bỏ người khác, hoặc giận dữ vì những điều họ nói.
Mỗi người có cuộc sống của mình và cách sống cuộc sống đó;
mỗi người thức dậy theo giờ giấc của mình, khi nào có thể, và nếu bạn giận dữ người khác, thì có nghĩa là bạn cũng bị lập trình như họ.
Sống linh đạo, ấy là sống có trách nhiệm khi đối diện với thực tại, và sống thức tỉnh để không để mình bị lôi cuốn bởi dòng chảy của các tiêu chuẩn mà xã hội áp đặt.
Người sống linh đạo không để mình bị lập trình bởi tiền bạc, tiêu thụ, chính trị, công việc hay thú vui. Ngay cả các cuộc thi đua thể thao cũng không còn là dịp vui chơi giải trí mà đã trở thành những hành động hiếu chiến, ở đó nổi lên sự hằn học hoặc tiềm ẩn những ức chế. Nền văn hóa tranh đua này, khi không còn hướng về niềm vui lành mạnh là được thi thố khả năng thể lý và tâm lý qua trò chơi, đã biến thành một nỗi lo âu là phải chiến thắng để được xếp hạng cao hơn người chiến bại.
Điều thiện hảo nơi con người, ấy là tình yêu và tất cả những gì xuất phát từ tình yêu như lòng nhân đạo, tình liên đới, sự tự do. Không còn gì là nhân đạo - theo nghĩa đen - khi đạt một kỷ lục bằng cách triệt hạ bạn hữu cùng chơi một trò chơi với mình: tôi giỏi hơn bạn, và nhờ đó mà người khác ngưỡng mộ tôi, rồi tôi sẽ nổi tiếng.
Nhưng bạn giỏi hơn điều gì nào?
Chạy ư? Nhảy ư?
Đặt một quả bóng vào giữa hai cột hay vào trong một chiếc rổ ư?
Điều đó có ích gì cho bạn?
Nhờ đó mà bạn biết yêu thương chăng?
Bạn có cảm thấy mình nhân bản hơn không?
Điều tệ hại hơn hết là những so sánh để đo lường con người hầu điều chỉnh cho khớp với các tiêu chuẩn lý tưởng, và những so sánh ấy không dính dấp gì đến sự phong phú của khả năng con người. Sự phong phú đó là điều có thực: những thứ còn lại chỉ là một mớ ý tưởng phi lý.
Điều quan trọng là sống chứ không phải làm ra vẻ. Dù cho chúng ta thấy rằng qui luật đó ít nhiều cũng được ghi khắc trong con người (mà con người được sinh ra là để sống tự do và làm chủ bản thân) thì dường như là một phép lạ nếu một người có thể xử sự trong tinh thần đó, bởi lẽ mọi người đã bị nền văn hóa nhận chìm vào trong một chương trình lập sẵn rồi.
Bạn không sở hữu chân lý, nhưng bạn phải trung thành với điều bạn cảm nghiệm về chân lý ấy, cái chân lý mà bạn gánh trách nhiệm.
Và cũng vì lý do đó, không ai có thể bắt bạn tuân theo những trói buộc của người khác hoặc cấm bạn thực hiện những điều mà bạn cảm nhận như là đúng và phải cho bản thân mình.
Vì sao mọi tôn giáo đều nghĩ rằng chỉ có riêng mình nắm giữ chân lý?
Tất cả mọi tôn giáo đều e sợ rằng đức tin sẽ mất đi, nếu các tôn giáo thừa nhận rằng người ta có thể tìm ra chân lý trong những tôn giáo khác.
Nếu ta đạt đến mức có thể sống vượt ngoài những điều mình tin - lề luật, qui định cần phải tuân thủ, bổn phận cần phải chu toàn hoặc các khái niệm đang điều khiển đời sống chúng ta - ta sẽ không mất thì giờ để tranh đua với các tín ngưỡng khác hoặc trốn tránh như thể các tôn giáo ấy đang đe dọa mình.
Điều chắc chắn là các tín lý có thể thay đổi, vì đức tin vượt lên mọi lề luật: “Tôi không đến để hủy bỏ lề luật, nhưng để hoàn tất lề luật”, Chúa Giêsu đã nói thế với những người Do Thái nhất định phải bắt quả tang Ngài phạm lỗi. Lề luật cần được hoàn tất, nhưng không có lề luật nào khác hơn là lề luật được ghi khắc trong lòng con người. Điều quan trọng là bạn phải phát hiện cơ hội để hoán cải sâu xa, những cơ hội giúp bạn tìm kiếm chân lý nơi mà mọi sự thật đều đồng qui. Đấy là chân lý của Thiên Chúa. Chân lý này không bao giờ lừa dối.
Ta thường nghĩ rằng mình lạc đường, vì mình đã sai lầm. Nhưng không phải vậy, vì kinh nghiệm là người hướng dẫn ta trong cuộc sống. Đến bao giờ chúng ta mới hiểu rằng mình không thể dành cả đời để cố thay đổi một thực tại không thể nào thay đổi được, vì thực tại chính là chân lý?
Chính chúng ta phải thay đổi, và việc này dễ dàng hơn, và thêm vào đó, đem lại nhiều ân ích hơn.
Ta hãy nhớ lại điều này:
“Mang giày vải cho êm chân thì dễ dàng và thực tế hơn là trải thảm khắp nơi trên mặt đất”
|
Người con yêu dấu" đang Cùng Chúa Vào Đời Xin vui lòng liên lạc với |
|
||||||||


